TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN LÀ CÂU NÓI CỦA AI

Đã có một vài người dịch bài viết nầy,nhưng BTGH muốn chuyển ngữ và giới thiệu suy tư về ÂN SỦNG của ĐHY Georges Cottier, 83 tuổi, 16 năm làm thần học gia phủ giáo hoàng, phát xuất từ việc Đức TGM Charles J. Chaput phê bình về sự ủng hộ tổng thống Mỹ Barack Obama của ĐHY Cottier trong vụ việc Đại Học Notre-Dame trao bằng danh dự cho ông Obama. BTGH đã giới thiệu bài viết của Đức TGM Chaput :”ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC CHAPUT TRẢ LỜI ĐỨC HỒNG Y COTTIER (06.10. 2009). ĐHY Cottier cũng là người đã viết giới thiệu cho cuốn sách của Cha Amorth, chuyên gia trừ qủy.

Bạn đang xem: Tất cả là hồng ân là câu nói của ai


Chủ yếu phải phân biệt, nhất là trong một thời buổi mà ngộ đạo (gnose) là một lựa chọn tất yếu với thực tại đức tin.

*
Mới hơn mười năm trôi qua kể từ khi ký Bản Tuyên Ngôn chung giữa Công giáo và Tin Lành phái Luther về giáo lý sự công chính hoá, nghĩa là về vấn đề mà chung quanh nó đã gồm tóm sự ly giáo của Cải Cách Tin Lành. Ngày 31.10.1999, sau khi được Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin chăm chú nghiên cứu, ĐHY bấy giờ là Walter Kasper và tổng thư ký Liên Đoàn Tin Lành Luther thế giới, Ishmael Noko, đã ký văn kiện nầy,chứng thực sự đồng thuận giữa Tin lành Luther và Công giáo về những chân lý nền tảng liên quan đến giáo lý về sự công chính hoá. Đức Biển-Đức XVI, khi nhắc lại kỷ niệm 10 năm ký kết nầy, đã lập lại khi đọc Kinh Truyền Tin nhân lễ Các Thánh, rằng những chân lý nầy “dẫn chúng ta vào cốt lõi Phúc Âm và tới những vấn đề chủ yếu cuộc sống chúng ta”. Người nói tiếp :” Chúng ta đã được Thiên Chúa đón nhận và chuộc lại. Cuộc đời chúng ta được khắc ghi trong chân trời ân sủng;được dẫn dắt bởi một Thiên Chúa đấy lòng xót thương, Đấng tha thứ tội lỗi chúng ta và gọi chúng ta đến một cuộc sống mới đi theo Con của Người. Chúng ta đang sống trong ân sủng của Thiên Chúa và chúng ta được kêu gọi đáp trả hồng ân của Người”


Quả thật, nếu người ta đọc lại Bản Tuyên Bố nầy,cũng như các văn bản soi sáng đi kèm theo, người ta tìm thấy ở đó những lời phát biểu rõ ràng và hiệu nghiệm về cách mà đức tin Kitô giáo được thông ban cho thế gian. Một đoạn trích dẫn Thánh Tôma Akinô được giới thiệu trong Phụ Lục tóm tắt cốt lõi đời sống Kitô hữu : “Ân sủng tạo nên đức tin không chỉ khi đức tin sinh ra trong một con người, mà là bao lâu còn đức tin” (gratia facir fidem non solum quando fides de novo incipit esse in homine,sed etiam quamdiu fides durat. Tổng hợp thần học II – II s. 4, kh. 4a) Ngày nay, sự cần thiết tuyệt đối ân sủng cho mỗi thời khắc của kinh nghiệm Kitô giáo và động năng riêng cho hành động của nó, dường như đã biến mất khỏi tranh luận thần học và giảng thuyết. Người ta lưy ý về điểm nầy, ở ngay bình diện công tác mục vụ bình thường, những lẫn lộn,những điều không rõ ràng,những điều hai nghĩa, những ngờ vực, vốn là những dấu chỉ cho thấy sự lu mờ đi tổng quát liên quan đến những từ ngữ và những khái niệm sơ đẳng của giáo lý Kitô giáo và của đời sống đức tin và chúng có nguy cơ làm cho dân Chúa lầm đường lạc lối.


Người ta ghi nhận một mức độ lẫn lộn đầu tiên trong quan niện phổ biến rằng ân sủng Thiên Chúa là một số liệu, mà mỗi người thủ đắc được một cách tiên nghiệm. Người ta còn đi tới chỗ đồng hoá đơn thuần ân sủng nầy với ánh sáng nội tâm của tạo vật loài người. Đó cũng là một quan niệm về loại nầy, được diễn tả khi người ta gán một giá trị cứu độ ngang nhau cho tất cả mọi hành vi tốt lành và cho tất cả những con đường đạo đức của con người, như thể tất cả những gì là đạo đức đều có thể được gán cho Chúa Thánh Linh một cách đơn ứng. Hoặc nữa khi người ta cho là hiển nhiên bộ mặt Kitô giáo của một dân tộc hoặc của một quốc gia, như thể đức tin Kitô giáo là một thứ tầng nền tôn giáo,đã được bao hàm trong căn tính sắc tộc, bộ tộc hoặc quốc gia nầy hoặc nọ.


Một số nhận dạng phải được đề nghị với phân tích chứ không được ép buộc. Vì người ta sinh ra là người Do Thái giáo, người ta sinh ra là người đạo Hồi,nhưng người ta không sinh ra là Kitô hữu. Người ta trở thành Kitô hữu, nhờ phép rửa và nhờ đức tin, như Tertullien đã nhìn nhận. Người ta không chế tạo ra những Kitô hữu, như người ta có thể gợi ra những chủ thể thuộc các tôn giáo khác chỉ bằng việc hạ sinh chúng. Đó là điều mà rất nhiều phụ huynh ngày nay ý thức được và rút cuộc họ đau khổ vì điều đó : không phải hể được nhận một nền giáo dục Kitô giáo tốt,là đương nhiên con cái họ có ân phúc đức tin. Môi trường, việc dạy giáo lý sẽ có thể là một trợ giúp.Nhưng không một điều kiện xã hội học nào có thể thay thế sự lôi cuốn của ân sủng,vốn mời gọi mỗi người tự do đến với nó. Đời sống đức tin đòi hỏi phải có sự dấn thân cá nhân trực tiếp.


Những sự mở rộng và những nơi chốn chung cho là đã thủ đắc ân phúc,là những triệu chứng cho thấy sự không hiểu biết chung một số phân biệt chủ yếu – luôn được công nhận và lưu ý trong giảng dạy và trong mục vụ của Giáo Hội – như sự phân biệt giữa trật tự tự nhiên (hoặc là trật tự tạo dựng) và trật tự siêu nhiên của ân sủng. Với Thánh Tôma, một hữu thể được tạo dựng đều có một bản thể vốn thúc đẩy nó tiến về cứu cánh riêng của nó và sở hữu khả năng thực hiện cứu cánh nầy. Điều nầy cũng đúng với bản tính con người,trước khi nó bị thương tích do nguyên tội. Sau tội lỗi và sa ngã,Thiên Chúa,bằng sự cứu chuộc,không chỉ chữa lành bản tính con người khỏi tội lỗi,mà đã thực hiện việc nhận con người làm con qua hy lễ Con Một của Người, Đức Giêsu Chúa chúng ta. Như Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi tín hữu Galata, “khi đã đến thời viên mãn,Thiên Chúa sai Con của Người, sinh ra từ một người nữ, phục tùng lề luật, hầu chuộc những người ở dưới lề luật, để ban cho chúng ta ơn được nhận làm con. Và bằng chứng anh em là con cái, đó là Thiên Chúa đã sai xuống trong lòng chúng ta Thần Khí của Con Một Người Đấng kêu lên : Abba,Cha ơi! Vì vậy anh không còn là nô lệ nữa, mà là con; là con và do đó là người thừa tự nhờ bởi Thiên Chúa” (Gl 4, 4 – 7). Điều đó có nghĩa là trong tự do của ơn cứu chuộc được thực hiện qua Đấng Kitô, có một sự ban nhưng không thứ hai của Thiên Chúa, còn tuyệt diệu hơn là sự nhưng không của việc tạo dựng. Trong thân phận tạo vật bị thương tổn do nguyên tội, con người trải nghiệm về sự kém cõi của mình trong nỗ lực hoàn tất cứu cánh tự nhiên của mình. Khát vọng hoàn tất nầy đánh dấu toàn bộ thân phận con người. Ngay bản tính con người, bị ghi dấu bởi tội nguyên tổ, tự nó đã là một câu hỏi mở vốn không có câu đáp. Và câu trả lời mà Thiên Chúa thực hiện qua Con của Người là Chúa Giêsu Kitô, không tưởng tượng ra được. Nó hết sức thừa thải. Nó không có thể đòi hỏi từ những trường hợp cá biệt vốn bắn liền với bản tính con người. Như Thánh Phaolô đã viết trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, những gì Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những kẻ Người yêu mến, không phải phát xuất từ tâm hồn con người “ (x. I Cor 2,9).

Xem thêm: Apply To Or Apply For? Apply To, Apply For, And Apply With


Một biến dạng khác liên quan đến điều mà Péguy gọi là “mầu nhiệm và hoạt động của ân sủng”,là thói quen nhìn thấy ân sủng khắp mọi nơi,một thói quen có vẻ như rất phổ biến trong môi trường thuộc giáo hội, ngay cả trong nhiều tác giả và diễn giả, vốn tự coi mình như những chuyên gia về những vấn đề thiêng liêng. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu quả thật cũng đã xướng lên khi sắp lâm chung những lời nầy “ tất cả đều là ân sủng”, để diễn tả việc Ngài phó thác trong cánh tay từ ái của Chúa. Câu nầy cũng thấy trong trang cuối cùng Nhật Ký một Cha Xứ Vùng Nông Thôn (Journal d’un curé de campagne) của Bernanos. Nhưng những câu nói, mà ý hướng có ý khẳng định sự cần thiết và sự tự do của hành động tạ ơn, thường kết thúc bằng việc phổ biến những ý tưởng có tính lừa lọc và bằng việc gieo lẫn lộn trong các tâm trí . Đó là trường hợp của một số cuộc gặp gỡ phiền toái và vụ hình thức,mà người ta gọi theo cách hùng biện,với đôi mắt khép kín, thỉnh thoảng trước cả khi chúng bắt đầu, là ‘những sự kiện ân sủng”. Người ta phát tán một hình ảnh đánh lừa,như thể ân sủng là một thứ mưa rơi không phân biệt trên mọi thực tại và bao phủ mọi sự, hoặc cả như một dấu niêm phong được ấn theo quy chế lên tất cả mọi hoạt động thuộc giáo hội. Nhưng, trên thực tế, trong chương trình cứu độ, lời hứa ban cho tất cả mọi người được thông ban qua đường bí tích, nghĩa là qua một sự chọn lựa đặc biệt, như việc thực hành các bí tích trong đời sống Giáo Hội cũng cho thấy.


Sự lạm dụng từ ngữ và cụm từ liên quan đến ân sủng có thể có những hậu quả vốn không phải là vô hại. Mới đây, trong khuôn khổ tranh luận ở Ý về thái độ hành xử đạo đức luân lý của các chính trị gia, người ta đã đi đến chỗ viết ra ( bằng việc trích dẫn một câu của Augustin vốn không hề có) rằng “ tất cả đều là ân sủng,kể cả tội lỗi”. ĐGM Hippone thực tế đã viết rằng “ với những ai yêu mến Thiên Chúa, mọi sự đều hợp tác vào sự lành,kể cả các tội lỗi”. Liên quan đến bản tính bị thương tổn của chúng ta, ân sủng có một tác động gồm ba phần : chữa lành – tăng cường – nâng cao. Không phải tội lỗi trong chính hiện trạng của nó là ân sủng, nhưng tội lỗi, qua trung gian thống hồi và ăn năn trở lại, có thể là cơ hội để được Chúa thứ tha. Khi người ta xưng thú tội lỗi của mình và khi xin ơn tha thứ, là người ta nhận biết sự lầm than khốn khổ của mình và người ta không còn cám dỗ kiêu căng tự phụ.


Ngược lại sẽ hoàn toàn xa lạ với đức tin Kitô giáo, nếu người ta đồng hoá ân sủng với tội lỗi, một khái niệm sai trái tìm thấy ở thuyết ngộ đạo và trong những văn thơ theo thuyết ngộ đạo nhại Kitô giáo. Chính từ những học thuyết nầy, mà phát xuất mọi học thuyết,chủ nghĩa, kể cả hiện đại – được nghiên cứu và mô tả với một sự sáng suốt đặc biệt bởi giáo sư Massimo Borghesi - đặt sự dữ vào chính Thiên Chúa,như một thời khắc “tiêu cực” trong tiến trình biện chứng của sự thu hút lại toàn bộ thực tại vào trong Sung Mãn Ân Sủng của Thiên Chúa (Plérôme divin).


Một nhãn quan về các sự vật như thế, được lấy lại từ người thợ giày “bí ẩn” Jacob Bohme, cũng được thấy lại nơi Hégel,mà toàn bộ công trình được Karl Lowith đánh giá là “Kitô học ngộ đạo” vĩ đại. Nhưng, trong bầu khí tinh thần hiện đại nầy, những mưu tính đặt sự dữ như nguyên lý tích cực cộng tác vào việc giải phóng con người thì không đếm xuể. Đó là những học thuyết lầm lạc, theo đó phải uống chén thuốc độc sự dữ để vượt qua sự chết, bởi vì ánh sáng đến từ bóng tối, con đường thiên đàng đi qua hoả ngục, ân sủng đến qua trung gian tội lỗi,ơn cứu chuộc có được là nhờ sự lầm lạc hư hỏng và thế giới được cứu thoát qua lầm lạc. Ý tưởng căn bản nầy là Thiên Chúa là sự thống nhất những điều đối lập. Cả hai Sự lành và sự dữ đều ở nơi Chúa và cả hai đều đến từ Thiên Chúa, vì nếu không có những điều trái ngược,đối lập nhau, thì không có tiến bộ. Không có Lucifer, thì không có sự giải thoát, không có ơn cứu độ.


Không phải là một sự tình cờ nếu, với việc nhắc đến ngộ đạo, triết gia người Do Thái Martin Buber đã viết : ”Chính nó - chứ không phải chủ nghĩa vô thần - triệt hạ Thiên Chúa, vì nó phải chối bỏ những hình ảnh mà cho tới bây giờ nó đã đưa ra – là kẻ thù đích thực của thực tại đức tin”.